Pages

28 thg 4, 2013

Một năm kinh tế buồn




Một năm kinh tế buồn (tiền tiền tiền tiền tiền)
Doanh nhân buồn tiền tiền tiền tiền tiền)
Ở khắp nơi năm qua bao nhiêu công ty kinh doanh cùng chết sặc
Loay hoay đi vay nhưng không ai cho, anh em xin vay thì cũng măc
Hàng tồn hàng thừa không ai mua không có tiền để mà rồi đóng hẳn
Bất động sản thì ngày càng chết lặn.

Ngân hàng không cho vay
Doanh nhân lo âu kêu than kinh doanh sao đây mà không cho vay
Thu chi thì lỗ vậy mà giờ này lại bảo là không cho vay
Nợ ngày càng nhiều, bán tháo cổ phiếu mà giờ lại không cho vay, giờ lại không cho vay.

Ừ thì hy vọng dẫu biết có khó khăn vẫn cố vay, hey tìm tiền trả nợ, hey
Tiền thì không còn, đã thế đất đóng băng, vay thì chết, chết không vay cũng chết, chết
Doanh nhân anh kinh doanh sao đây, sao đây, sao đây ây ây ây ây.

Một năm kinh tế buồn (buồn buồn buồn buồn buồn)
Doanh nhân buồn (buồn buồn buồn buồn buồn)
Kinh doanh buồn (buồn buồn buồn buồn buồn)
Mà tôi cũng buồn (buồn buồn buồn buồn buồn).

Ê tình hình khó khăn (buồn buồn buồn buồn buồn)
Ê nợ thì chết luôn (buồn buồn buồn buồn buồn)...

Thế là toi. Nợ đầm nợ đìa ngập đầu ngập nhà
Tình hình này thế là toi
Quanh năm loay hoay đi xin đi vay mà giờ thì rất là gay
Doanh nhân loay hoay kinh doanh sao đây mà giờ thì rất là gay
Giờ này rất là gay (không được vay thì chết)
Một năm kinh tế buồn.

E tình hình khó khăn (buồn buồn buồn buồn)
E nợ thì chết luôn (buồn buồn buồn buồn)
Một năm kinh tế buồn.

Đại tá, anh hùng phi công Nguyễn Thành Trung

Có một giờ G khác vào năm 1974


SGTT.VN - 35 năm hoạt động, trên vai áo ông từng đeo quân hàm không quân hai bên là đối thủ của nhau. 22.000 giờ bay với nhiều loại phi cơ chiến đấu và dân dụng hiện đại nhất từ Đông sang Tây, từ Á sang Âu. Những nếm trải cuộc đời, dường như Nguyễn Thành Trung chẳng thiếu thứ nào. Người ta thường nói vinh quang đi cùng cay đắng. Còn ông, sống chết, tù tội chẳng màng, nhưng những giây phút cô đơn trong cuộc sống hoà bình, ngay trong lòng đồng đội thì thật dài và khó quên. Tháng tư đến rồi lại đi cùng ký ức…
Chặng đường lịch sử dài 38 năm có quá nhiều biến cố, sự kiện ném bom dinh Độc Lập ngày 8.4.1975 đối với ông có ý nghĩa gì? Bây giờ nghĩ về giây phút ấy ông cảm thấy thế nào?
Đối với cá nhân tôi, ngày 8.4.1975 là một bước ngoặt lịch sử quan trọng nhất trong cuộc đời. Lái chiếc máy bay F-5E ném hai trái bom xuống dinh Độc Lập, sau đó quay lại dùng súng phóng lựu vào kho xăng Nhà Bè, là hành động mà tôi ấp ủ trong một quá trình dài, ngay từ thời trai trẻ.
Đối với tôi, chấm dứt chiến tranh để người Việt Nam không còn đổ máu là một việc lớn phải làm. Đó không phải là cảm hứng nhất thời, hay bất chợt, liều lĩnh. Sự nỗ lực cá nhân suốt bao nhiêu năm ở khoa toán – lý đại học Khoa học Sài Gòn, trong vỏ bọc sĩ quan không lực Việt Nam Cộng hoà, hay tại các trung tâm học lái máy bay chiến đấu ở Hoa Kỳ từ năm 1969 – 1972 tôi vẫn chuyên chú cho hành động ấy. Tôi âm thầm luyện tập hạ cánh ở cự ly gần 1.000 mét (trong khi máy bay F-5E phải đáp trên đường băng dài tối thiểu 3.000 mét) đến độ hư hai máy bay và phải chịu kỷ luật hạ lương, giáng chức, suýt nữa là bị lộ tại sân bay Biên Hoà. Nhờ vậy mà ngày 8.4 năm ấy tôi đã hành động chính xác, đáp xuống an toàn tại sân bay dã chiến Phước Long vừa giải phóng. Có thể gọi đó là sự chính xác của lý trí và khoa học. Bước ngoặt 180 độ đó cho tôi được chính danh là tôi – Nguyễn Thành Trung như ngày hôm nay.

Sau khi ném bom Dinh Độc Lập, phi công Nguyễn Thành Trung đã lái máy bay F5E 
hạ cánh an toàn xuống sân bay Phước Long. 

Nhưng báo chí cả hai phía lúc đó chạy những dòng tít lớn gọi ông là “phi công phản chiến”?
Đúng vậy, cấp trên nói với tôi là cần tuyên truyền như vậy để kêu gọi những người trong lực lượng không quân Sài Gòn tiếp tục phản chiến. Tôi nghĩ nói sao cũng được, vấn đề là tôi có làm được nhiệm vụ không? Có còn sống để trở về không? Từ năm 1969, tôi đã là đảng viên.
Còn các đồng nghiệp của ông nói gì về hành động của ông?
Ngay lúc đó thì tôi không biết họ nói gì, nhưng sau này nhiều người cho là tôi hành động hơi dại dột, bởi trước mắt tôi là một hợp đồng với phía Mỹ, sẵn sàng bảo lãnh vợ con tôi sang sống ở Mỹ với điều kiện tốt nhất. Nhưng đó không là lựa chọn của tôi.
Vậy lựa chọn của ông bắt nguồn như thế nào, truyền thống cách mạng của gia đình hay sự tự giác của cá nhân ông?
Ba tôi là một người yêu nước, chống thực dân và hy sinh tại quê nhà. Các anh tôi cũng đi theo con đường yêu nước của ba tôi. Cái chết của ba tôi, càng làm cho tôi ý thức rõ ràng hơn là phải góp phần làm cho chiến tranh sớm chấm dứt, quê hương và dân tộc mình phải được sống trong cảnh thanh bình. Tôi là người biết rõ mình là ai, mình cần phải làm gì. Những việc quan trọng cần làm tôi luôn dự liệu trước hàng chục năm.
Thời khắc đó ông có nghĩ đến sự an toàn của vợ và hai con còn quá nhỏ đang sống ở thành phố Biên Hoà? Có khi nào ông cảm thấy khổ tâm hay hối hận về hành động của mình mang lại nỗi vất vả cho vợ con?
Trước khi ném bom dinh Độc Lập ngày 8.4.1975, lãnh đạo đề nghị đưa vợ con tôi ra vùng giải phóng để tôi yên tâm làm nhiệm vụ. Nhưng lúc đó, tôi bị nghi kỵ nhiều, nguy cơ bị lộ rất cao nên chuyện đó là không thể. An ninh quân đội theo sát gia đình tôi từng giờ, nếu vợ con tôi vắng nhà không rõ lý do thì tôi sẽ bị bắt ngay tức khắc. Cũng có thể trên đường ra vùng giải phóng, vợ con tôi cũng sẽ bị bắt, tình thế đó sẽ nghiêm trọng hơn. Rất lo lắng cho tính mạng vợ con, nhưng việc mà tôi đã tính trước 10 năm đến thời điểm này là không thể dừng. Mặt khác, thời gian sống trong đội ngũ không lực Sài Gòn cho tôi một niềm tin rằng vợ tôi, một người phụ nữ không liên quan gì đến công việc của tôi, con tôi còn quá nhỏ (đứa lớn mới 5 tuổi, đứa nhỏ chưa tròn năm) sẽ không bị đối xử một cách tàn nhẫn.
Thực tế diễn ra đúng như tôi dự đoán. Cánh an ninh không quân đưa xe đến nhà bắt vợ con tôi. Vợ tôi phản đối vì mình không biết gì về công việc của chồng. Họ từ tốn: “Thưa bà, chúng tôi không bắt bà (nếu bắt chúng tôi đã dùng còng số 8, trói bà chẳng hạn), chúng tôi tới đây mời bà vào phòng an ninh sư đoàn, với trách nhiệm bảo vệ sự an toàn tính mạng của bà và các con bà. Nếu bà có tài sản quý giá nào thì bà cứ mang theo”. Một tuần sau vợ và con tôi bị đưa từ Biên Hoà về số 4 Nguyễn Bỉnh Khiêm - Sài Gòn cho đến ngày 30.4.1975. Đương nhiên, họ vẫn điều tra vợ tôi về những gì liên quan đến tôi, nhưng không bị đối xử vô nhân đạo. Có thể đó là những người có học và biết cách ứng xử một cách văn hoá với người thân của kẻ thù. Trong thời gian vợ tôi bị giam ở số 4 Nguyễn Bỉnh Khiêm, trung tướng không quân Trần Văn Minh đến thăm với tư cách người chỉ huy có một người lính phản chiến. Ông ấy hỏi vợ tôi có cần bạn bè, người thân đến chuyện trò gì không hay cần mua sắm gì thì ông sẽ giúp đỡ.
Vậy đó, ngày 2.5.1975, tôi lái máy bay từ Phan Rang về sân bay Biên Hoà. Vợ con tôi cũng vừa được giải thoát khỏi số 4 Nguyễn Bỉnh Khiêm, chúng tôi gặp lại nhau trong ngôi nhà nhỏ của mình.
Sau ngày thống nhất đất nước, đối diện với bao khó khăn của cuộc sống thường ngày do nền kinh tế bao cấp áp đặt, những lúc ngột ngạt, mệt mỏi ông nghĩ gì?
Tôi là người được học hành tử tế trong những ngôi trường khá lý tưởng của Sài Gòn và tiếp cận nhiều nguồn tài liệu khác nhau, tôi biết rõ những sai lầm trong chính sách kinh tế của miền Bắc nước ta. Bi kịch cải cách ruộng đất còn nguyên đó, công nghiệp chẳng có gì. Khu gang thép Thái Nguyên còn thô sơ lắm, Dệt Nam Định, Sứ Hải Dương chỉ sản xuất được những mặt hàng tiêu dùng cấp thấp, đặc biệt là hạn chế về trình độ của cán bộ quản lý. Sự khác biệt về ý thức hệ giữa hai miền, nhất là do đặc thù của nền kinh tế tự cung tự cấp, cho tôi nhìn rõ sau khi Việt Nam thống nhất, kinh tế sẽ cực kỳ khó khăn ít nhất là mười năm. Tôi chuẩn bị tinh thần đối phó với những khó khăn chung, và cả những khó khăn về mặt cá nhân, nghi ngờ, hay có những phân biệt đối xử này nọ... Tôi chấp nhận đối diện thực tế đó và nghĩ điều quan trọng nhất mình có được là dân tộc Việt được sống trong hoà bình.
Thực tế mười năm khó khăn như ông nói cũng đã được tháo gỡ bởi bước chuyển đổi mới. Nhưng tới bây giờ, người ta lại tiếp tục đưa ra dự báo mình lại đang hụt hơi, tụt đà. Ông nghĩ thế nào?
Thực ra đổi mới một phần vì khi mình tiếp xúc với thế giới mới ngộ ra một điều là đang bị co trong vòng luẩn quẩn, không tìm ra lối thoát trong khi thế giới ào ào tiến lên. Từ ảnh hưởng đó đồng thời tác động mạnh của cuộc khủng hoảng Đông Âu tới mình và cả Trung Quốc, bắt buộc phải một phần nào đó chấp nhận cách làm ăn mới, có sự tư hữu. Tư hữu của thế giới mình không chấp nhận, nhưng con người có quyền tư hữu từ hàng ngàn năm về trước. Mình luẩn quẩn trong khi thế giới đang tiến lên bởi mình không chấp nhận dân làm giàu. Cho nên bắt buộc mình phải công nhận, phải chấp nhận tư hữu ở một mức độ nào đó để dân thở được. Khi đó dân bắt đầu làm ăn được. Cải cách vì vậy là do dân. Cuộc cách mạng này do dân và do lịch sử thế giới tác động. Nếu muốn không tụt đà thì phải nương vào sức dân, dân giàu thì nước mới mạnh.
Sau ngày 30.4, ông có thường gặp lại đồng nghiệp trong những phi đội cũ? Tình cảnh và và tâm thế lúc gặp lại như thế nào?
Bẵng mười năm sau giải phóng, tôi không gặp lại ai trong nhóm những đồng nghiệp cũ. Sau đổi mới, từ năm 1986 trở về sau này, các đồng nghiệp cũ của tôi lần lượt về mới có dịp gặp lại. Lớp tôi có 23 đứa, chết hết bốn, 18 đứa qua Mỹ, chỉ còn mình tôi ở lại. Những lần gặp cũng dễ nói chuyện vì họ đã hiểu rõ mọi chuyện. Tôi cũng hoàn toàn hiểu và tôn trọng họ. Đa phần những đồng nghiệp của tôi đều ở Mỹ. Lúc mới về, tâm lý chung mấy người bạn đều ngại gặp tôi. Tôi thì chả ngại gì, tôi vẫn xem họ là những người bạn. Khi gặp cũng tâm sự nhiều, cũng so sánh chuyện cũ, chuyện bây giờ. Ai cũng công nhận việc tôi làm là góp phần chấm dứt cuộc chiến tranh, chấm dứt cảnh chết chóc, đổ máu. Nhưng điều họ chia sẻ là họ không dám có những quyết định như vậy.
Những người bạn lựa chọn khác tôi lúc qua Mỹ còn trẻ nên ai hội nhập được, sống khá giả. Năm nào mấy ổng cũng ngồi lại với nhau, chuyện nói nhiều nhất là về tôi. Nhiều anh em bảo quyết định của tôi hơi dại dột, vì sau giải phóng sống kiểu gì cũng bị nghi ngờ, đói khổ… Tôi trả lời đó không phải là quyết định bậy bởi tôi ý thức được việc cần làm. Cái gì cũng vậy, làm thì phải trả giá nhưng tôi chấp nhận việc đó. Nhưng qua những thăng trầm của đất nước, nhiều kinh nghiệm cuộc đời đúc kết lại, tôi thấy việc tôi làm càng ngày càng đúng. Còn hỏi tôi có lăn tăn hay không, tôi trả lời thật là thánh mới không lăn tăn, nhưng những cái lớn nhất át những lăn tăn nhỏ đi, nên hàng đêm tôi ngủ yên vì biết tôi đang ngủ trên đất nước mình, chứ qua Mỹ sướng thật nhưng ngủ không yên bởi lúc nào cũng đau đáu một quê hương chỉ còn trong ký ức. Nhiều đứa bạn nói thẳng: “Đến bây giờ mới nghe được một người nói điều đó là mày”. Chúng tôi gặp nhau trao đổi thẳng thắn, không giấu giếm điều gì, nói đến tận cùng suy nghĩ của mỗi người.
Với ông, quê hương là thế nào?
Tôi có tới hai quê hương. Một Bến Tre nơi tôi sinh ra, nơi đó là dòng tộc máu mủ, nơi đó cha mẹ tôi đã nằm xuống cho chúng tôi trưởng thành. Vốn là xứ học, địa linh nhân kiệt, nhiều tên tuổi trí thức lớn Việt Nam xuất phát từ đây. Những Phan Thanh Giản, Võ Trường Toản, Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Đình Chiểu… là những tấm gương của nhân – nghĩa – lễ – trí – tín mà tôi từng học được.
Còn một quê hương khác, Sài Gòn đối với tôi là máu thịt, là tình yêu, là gì đó không thể lay chuyển được dù cho năm tháng trôi qua, nhìn góc phố thay đổi, cũng nhiều lúc buồn vui hờn giận, tiếc nuối…
Ông từng thổ lộ về một người bạn rất thân, giữa ông với người đó hình như có một món nợ ân tình đến nay vẫn còn đau đáu?
Người bạn ấy đến giờ sau 38 năm vẫn chưa gặp lại mặc dù tôi nghe tin ảnh có quay về. Ảnh cùng ở phi đoàn phản lực không quân Sài Gòn với tôi nhưng không phải cùng lớp. Anh ấy là một người đặc biệt. Khi đó, lãnh đạo báo cho tôi biết có một cán bộ nội tuyến trong lực lượng pháo binh bị bắt khai có một phi công quê Bến Tre là nội tuyến của Việt cộng. Tôi nhẩm tính trong không quân có độ chục người gốc gác Bến Tre, riêng phi đoàn phản lực thì có tôi và người bạn mà tôi kể ở trên, người cùng xã, cùng học trường tiểu học nhưng trên tôi hai lớp. Khi thông tin bị lộ như thế thì tất cả những người gốc Bến Tre đều bị triệu tập điều tra. Anh bạn tôi bị ngưng bay, an ninh không quân gọi lên làm việc liên tục. Anh ấy không biết có chuyện gì, nhưng tôi thì biết rõ nguyên nhân. Tuy lý lịch anh ấy không có vấn đề gì nhưng anh có người chị học đại học sư phạm từng tham gia biểu tình chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Lúc đó, tôi cũng như ngồi trên lửa, nhiều chuyện không thể tâm sự, chia sẻ với ai được. Khoảng một tuần sau, tôi gặp ảnh và tôi nghĩ ảnh biết rõ về tôi, từ gia đình đến công việc của tôi. Ảnh nói: “Riêng mày thì tao “ba không”, ai hỏi tao về mày tao cũng không biết, không nghe, không thấy”. Khi nghe câu đó, tôi nhập tâm đến giờ, tới chết tôi sẽ mang theo lời nói và hình ảnh của anh ấy.
Tôi ngẫm nghĩ ở đời có nhiều người cực xấu nhưng cũng có nhiều người cực tốt. Cái tốt - xấu đó mong manh lắm, nhưng người ta không cần xác nhận. Là bạn thân nên anh ấy bảo vệ chứ không phải vì tôi là Việt cộng hay cán bộ mà anh ấy ứng xử như vậy. Trong thâm tâm tôi nhiều lần muốn gặp lại anh ấy, nhưng để làm gì, nói một lời cảm ơn liệu có ý nghĩa gì? Tôi động viên mình có lẽ trong tình cảnh ấy đến giờ chỉ cần hai tâm hồn bạn bè hiểu nhau là đủ. Tôi nguyện cho tới chết tôi sẽ mang điều ấy theo.
Ông đã bước ra khỏi vỏ bọc của một điệp viên, lái máy bay trên bầu trời hoà bình, và làm công việc đào tạo, hết lòng với một thế hệ phi công trẻ Việt Nam. Điều đọng lại trong ông sau thời gian dài gắn bó với công việc đào tạo, huấn luyện ấy là gì?
Giã từ cuộc chiến, tôi thấy mình làm khá nhiều việc mà những việc đó chắc không phải ai cũng làm được. Hồi còn sống, anh Hai Trung (tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn) nói nửa đùa nửa thật: “Việc ông ném bom dinh Độc Lập, Nhà nước phong ông anh hùng thì tôi không nói làm gì, còn công việc ông làm sau này nếu được, tôi phong ông hai lần anh hùng nữa”. Anh Hai Trung hiểu về công việc đặc thù của tôi. Khi giải phóng, cả một bề thế không quân chế độ cũ bỏ lại, tôi là người làm sống lại phi đội A37 sau này tham gia đánh Tân Sơn Nhất vào ngày 28.4 trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. F5 là máy bay chiến đấu hiện đại nhất của Sài Gòn lúc bấy giờ mà Mỹ bỏ lại mấy phi đoàn nhưng không có người bay. Giá trị vậy nhưng bỏ lại quá lâu bị hư hại nhiều, có chiếc bị bắn phá thủng lỗ chỗ. Nhiều chiếc còn bị bộ đội tiếp quản tháo đi những tiện nghi nội thất hay linh kiện quan trọng… Sau khi thành lập bộ phận tiếp quản, tôi nhận nhiệm vụ làm sống lại những chiếc máy bay này. Khi sửa xong, tôi là người bay thử. Phi công bay thử của người ta điều kiện bảo hiểm ngặt nghèo lắm, còn tôi thì như con thiêu thân. Gần 50 lần bay như thế, tôi luôn sẵn sàng tình huống nhảy dù khẩn cấp bởi máy bay có thể hư bất cứ lúc nào. Mỗi lần bay, nhiên liệu chỉ cung cấp đủ phân nửa cơ số. Vốn là người nhạy cảm trong cuộc sống, con ruồi bay qua tôi phân biệt ruồi đực hay ruồi cái, huống chi chuyện nhiên liệu chỉ đủ bay một vòng trong bán kính hẹp. Điều lăn tăn mà tôi kể trên là như vậy đó.
Tháng 8.1975 sau khi hồi phục xong rồi, tôi huấn luyện cả một phi đội, bay thành thục F5 để thành lập trung đoàn không quân 935, sau này trở thành trung đoàn anh hùng.
Đã quá cái tuổi lục thập nhi nhĩ thuận, còn điều gì ông thấy hối tiếc, hoặc món nợ nào ông chưa trả được?
Đến giờ này tôi vẫn ân hận, tiếc là không được chết vì Hoàng Sa. Ngày 18.1.1974, hải quân Trung Quốc đổ bộ lên chiếm đảo Hoàng Sa, phía Việt Nam Cộng hoà khi đó có một đại đội địa phương quân chốt trên đảo Phú Lâm. Hai bên đánh nhau, cùng có thương vong về con người nhưng quân số Trung Quốc đông quá, 51 lính địa phương quân của ta bị bắt đưa về Trung Quốc. Việt Nam Cộng hoà lên tiếng phản đối việc Trung Quốc dùng sức mạnh quân sự để chiếm đảo của Việt Nam một cách phi pháp. Đây là sự kiện lớn, dư luận thế giới cũng phản đối việc đó.
Lúc này hải quân của Việt Nam Cộng hoà không thể đổ bộ chiếm lại đảo được. Ngày 19.1.1974, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu điều năm phi đoàn F5, bốn ở sân bay Biên Hoà, một ở sân bay Đà Nẵng, mỗi phi đoàn có 24 máy bay và 120 phi công ra Đà Nẵng chuẩn bị đánh lấy lại Hoàng Sa. Mọi người rất phấn khởi, tụi tôi đi ra với tư thế là đi lấy lại một phần lãnh thổ đất nước. Sĩ quan cấp tá ở các phi đoàn 520 – Nguyễn Văn Dũng, 536 – Đàm Thượng Vũ, 540 – Nguyễn Văn Thanh, 544 – Đặng Văn Quang, 538 – Nguyễn Văn Giàu đều đã lên kế hoạch tác chiến kỹ lưỡng.
150 phi công thuộc sáu phi đoàn F5 của không lực Việt Nam Cộng hoà khi đó đều ký tên chung vào một lá đơn tình nguyện “Xin được chết vì Hoàng Sa”.
Hàng ngày, máy bay RF5 có nhiệm vụ bay và chụp ảnh các toạ độ từ nhỏ nhất ở Hoàng Sa, xem có thay đổi gì, tàu chiến Trung Quốc di chuyển ra sao, bố trí các cụm phòng thủ thế nào… đưa về chiếu ra cho tất cả phi công theo dõi. Tụi tôi đếm từng tàu một, thậm chí đếm được cả số ghi trên tàu, chia bản đồ ra làm bốn, mỗi góc tư giao cho một phi đoàn, phi đoàn thứ năm bay bảo vệ trên không. Họ có 43 tàu tất cả và quyết tâm của tụi tôi là đánh chìm tất cả 43 tàu đó trong vài giờ.
Về không quân, vào thời điểm đó chúng tôi có nhiều lợi thế hơn Trung Quốc. Bay từ Đà Nẵng ra Hoàng Sa bằng cự ly từ đảo Hải Nam ra. Ưu thế của phi đội tụi tôi là máy bay bay ra, đánh nửa tiếng vẫn thừa dầu bay về còn Trung Quốc chỉ có Mig 21, bay ra đến Hoàng Sa thì không đủ dầu bay về. Khí thế phi công lúc đó hừng hực, mấy anh chỉ huy trưởng từ đại tá trở xuống đòi đi đánh trước. Tất cả háo hức chờ đến giờ G là xuất kích. Nhưng giờ G ấy đã không đến. Hạm đội 7 của Mỹ trên biển không cứu các hạm đội của đồng minh Việt Nam Cộng hoà bị bắn chìm và bị thương trên đảo. Dường như vì lợi ích của mình, các quốc gia lớn có quyền mặc cả và thương lượng bất chấp sự toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia khác.
Một mảnh đất dù nhỏ cũng là tổ quốc mình, cha ông ta đã đắp xây nên bờ cõi, là con dân của đất nước ai cũng có nghĩa vụ thiêng liêng gìn giữ lấy. Tụi tôi háo hức sẵn sàng tất cả nhưng cuối cùng không được chết cho Hoàng Sa. Tới bây giờ tôi vẫn ân hận. Sau này bạn bè tôi gặp lại nhau cũng cùng một tâm trạng: đáng lẽ tụi mình chết cho Hoàng Sa thì vinh dự hơn!
Là người đi nhiều nơi, có điều kiện tiếp cận với chuyện làm ăn, ông thấy phẩm chất, tư cách của người Việt Nam có đứng được ở những thị trường minh bạch?
Cũng tuỳ người. Thí dụ như thị trường Lào, nhiều nhà đầu tư của mình không dám qua đó nữa bởi vì làm kiểu nói dóc, hứa nhiều nhưng làm chẳng bao nhiêu. Họ nói thẳng là mấy ổng đó qua họ không tiếp. Cách làm ăn của người Việt mình cũng có nhiều cái người ta không chấp nhận, chỉ chụp giật, bốc hốt ở đây thôi chứ ra ngoài người ta không chấp nhận.
Hiện nay ông có bằng lòng với cuộc sống của mình?
Thời nào tôi cũng bằng lòng với hiện tại. Thời khó khăn nhất cũng như khi đất nước đổi mới đến nay, tôi bằng lòng với những cái mình hiện có. Đó là hạnh phúc tự tạo. Nếu để làm giàu tôi sẽ đi đường khác và tôi biết cách làm giàu, nhưng tôi đã không lựa chọn như vậy. Tôi vẫn nghĩ “tri túc tiện túc hà thời túc”, mình biết đủ thì lúc nào cũng đủ, còn ham muốn, lúc nào cũng thấy thiếu thì không bao giờ đủ cả. Tôi bằng lòng với cuộc sống con cái học hành đàng hoàng, lễ phép với cha mẹ. Hiện tôi vẫn chưa nhàn được, tôi vẫn đi làm thuê, nhưng làm để vui, chứ làm để buồn thì tôi không bao giờ làm.

Để giải toả những mệt mỏi trong công việc, ông có chơi thú giải trí gì khác?
Tôi cũng thích nhiều nhưng tự thấy mình không có điều kiện, chẳng hạn như đánh golf , làm sao đủ sức, đủ tiền mà vác cái gậy mấy chục ngàn đô. Đối với tôi bây giờ sức khoẻ là trên hết, liệu sức để làm việc thôi. Tôi sống trên không nhiều quá rồi, giờ ngồi dưới đất thú thực là thấy tay chân tù túng, bay một tí cho vui nên đến nay tôi vẫn bay đều.
Cảm ơn về cuộc trò chuyện chân tình và thẳng thắn của ông.

Đất nước những tháng năm thật buồn


Nguyễn Khoa Điềm


Đất nước những năm thật buồn
Nửa đêm ngồi dậy hút thuốc vặt
Lần mò trên trang mạng tìm một tin lành
Như kẻ khát nước qua sa mạc
Chung quanh yên ắng cả
Ngoài đường nhựa vắng tiếng xe lại qua
Người giàu, người nghèo đều ngủ
Cả bầy ve vừa lột xác

Sao mình thức ?
Sao mình mải mê đeo đuổi một ngày mai tốt lành ?

Bây giờ lá cờ trên Cột cờ Đại Nội
Có còn bay trong đêm
Sớm mai còn giữ được màu đỏ ?
Bây giờ con cá hanh còn bơi trên sông vắng
Mong gặp một con cá hanh khác ?
Bao giờ buổi sáng, buổi chiều nhìn ra đường
Thấy mọi người nhẹ nhàng, vui tươi
Ấm áp ly cà phê sớm
Các bà các cô khỏe mạnh yêu đời
Hớn hở tập thể dục
Bao giờ giọt nước mắt chảy xuống má
Không phải gạt vội vì xấu hổ
Ngước mắt, tin yêu mọi người

Ai sẽ nắm vận mệnh chúng ta
Trong không gian đầy sợ hãi ?
Những cây thông trên núi Ngự Bình thấp thoáng ngọn nến xanh
Đời đời an ủi
Cho người đã khuất và người sống hôm nay …

 22.4.2013

Chết để con được học!


(Phapluattp) - Do bệnh tật và quá nghèo, chị đã chọn cái chết để giảm gánh nặng cho chồng con, để các con có điều kiện tiếp tục con đường học vấn.
Người mẹ ấy là chị Nguyễn Thị Mỹ Nhân, 48 tuổi, ở ấp 5, xã An Xuyên, TP Cà Mau (Cà Mau). Cái chết thương tâm của chị khiến nhiều người xung quanh phải giật mình thảng thốt. Đọc bức thư tuyệt mệnh của chị để lại cho chồng con ai cũng rơi nước mắt.
Chết để tiết kiệm cho chồng con!
Anh Đinh Hoài Bảo, chồng chị Nhân, hướng mặt về phía bàn thờ, nhìn sâu vào di ảnh vợ mà nước mắt lưng tròng. Anh kể: “Tháng trước, vợ tôi nói sẽ chết đi để có tiền cho cha con tôi tiếp tục cuộc sống, tiếp tục việc học hành. Tôi đã hết lời khuyên ngăn nhưng bà ấy vẫn quyết tâm…”.
Anh Bảo sụt sùi kể tiếp: “Vợ tôi đang bị bệnh viêm dây thần kinh số 7, giật méo miệng, thêm suy thận, suy tim, mỗi ngày tốn tiền thuốc 140.000 đồng. Vợ tôi nghĩ rằng chết đi sẽ tiết kiệm được khoản này và còn được mọi người đi phúng điếu sẽ kiếm thêm được chút ít tiền nữa cho chồng con…”.
Chị Nhân sinh ra và lớn lên rồi lập gia đình ngay ở xã An Xuyên, TP Cà Mau. Sau khi lấy nhau, anh chị được cha mẹ hai bên cho năm công đất ruộng. Việc trồng trọt thất bát, cộng thêm vài trận bệnh của chị, năm công đất phải bán đi để trả nợ nần và lo việc học cho các con. Cả hai vợ chồng anh chị cùng có chung hoài bão là sẽ nuôi ba đứa con trai ăn học đến nơi đến chốn để thay đổi tương lai chứ không để giống như cha mẹ. Với quyết tâm này, anh chị đã tảo tần mười mấy năm qua bằng đủ loại nghề, miễn là kiếm được tiền. Khi thì cả hai cùng đi phụ hồ, khi thì đi bán rau cải, bánh mì ngoài chợ…
Không đủ tiêu chuẩn hộ nghèo
Năm 2011, sức khỏe chị Nhân suy yếu, không còn làm phụ hồ được, cũng không thể bê xịa bánh đi bán, chị xin một chân giúp việc nhà cho một gia đình ở TP Cà Mau.
Thời điểm này, con trai lớn của chị là Đinh Công Bằng thi đậu vào CĐ và đi học ở Bà Rịa-Vũng Tàu, tiền nong gia đình vì vậy càng thêm bức bách. Nghe đến những chính sách hỗ trợ của Nhà nước, chị chạy đôn chạy đáo đi tìm hiểu và tìm cách làm đơn xin được hỗ trợ, cứu giúp. Chị làm đơn kể hoàn cảnh khó khăn để đi xin vay tiền cho con học CĐ. Ấp, xã cùng chứng thực hoàn cảnh khó khăn của chị nhưng khi đến Ngân hàng Chính sách của TP Cà Mau thì bị từ chối vì chị không có sổ hộ nghèo. Chị lại về xin công nhận hộ nghèo nhưng xin hoài mà vẫn không được. Bởi người ta xét nhà chị có hai lao động chính, thu nhập 5 triệu đồng/tháng (anh làm thợ hồ ngày được 100.000 đồng, tức 3 triệu đồng/tháng, chị đi giúp việc được 2 triệu đồng/tháng nữa, tổng cộng là 5 triệu đồng)! Chia cho năm nhân khẩu thì bình quân mỗi nhân khẩu được 1 triệu đồng/tháng. Trong khi đó, quy định hiện hành tại xã chị thì bình quân thu nhập 401.000 đồng/nhân khẩu trở xuống mới được xét cấp sổ hộ nghèo và từ 520.000 đồng/nhân khẩu đến 401.000 đồng/nhân khẩu thì mới được xem là hộ cận nghèo. Vậy là chị không dính vào diện nào cả, đành ngậm ngùi sau bao lần lên ấp, lên xã xin sổ hộ nghèo.
Tháng 3-2013, sau một ngày đi khám và điều trị bệnh, chị bị mất luôn công việc giúp việc nhà. Bao gánh nặng như tiền học cho ba đứa con, tiền thuốc cho chị, tiền hụi chết đã hốt non lo cho con ăn học… dồn lên vai người chồng. Tự thấy mình là gánh nặng, ngay sau khi mất việc, chị đã nói với chồng là sẽ chết đi. Và chiều 24-4, lúc 15 giờ, con trai út của chị đã phát hiện mẹ mình treo cổ chết trong phòng ngủ, bên cạnh là một bức thư tuyệt mệnh đầy bốn trang giấy học trò!
“Xin cấp cho chồng tôi sổ hộ nghèo”
Chị mới học tới lớp 4, văn từ lủng củng nhưng bức tuyệt thư chị viết ra bằng tâm sức cuối cùng đã gây động lòng biết bao bà con ở xã An Xuyên. Mở đầu chị viết: “Anh! Trong hoàn cảnh quá khổ sở, không lối thoát, em đành phải xa anh và các con…”. Theo đó, chị bảo rằng việc chọn cái chết là vì để cho chồng bớt gánh nặng tiền thuốc men cho vợ, dành phần tiền này lo cho các con ăn học; vì bản thân bệnh nặng, sức khỏe tinh thần đều suy sụp; vì muốn phù hộ cho chồng con khỏe mạnh, trúng số độc đắc; và cuối cùng là để chính quyền địa phương xót thương mà cấp cho chồng con chị cái sổ hộ nghèo hoặc cận nghèo.
Đoạn nói về sổ hộ nghèo, trong thư chị viết: “Xin các cấp chính quyền ấp 5 thấu hiểu cho hoàn cảnh không lối thoát của chúng tôi hiện nay mà cấp sổ hộ nghèo cho chồng con tôi để sống những ngày tháng còn lại trên đời”. Trong thư, chị Nhân nhắc đi nhắc lại câu: “Anh Bảo, em thương anh nhiều lắm. Chết là hết, chỉ thương anh ở lại trên đời với biết bao gánh nặng… Các con Bằng, Tâm, Ngân đừng trách mẹ. Hãy gắng học nên người, đừng để cha con buồn. Cha con đã khổ với mẹ con ta nhiều lắm!”.




Làm rõ khái niệm “bồi thường” trong sửa đổi Luật Đất đai


(VOV) - Những mâu thuẫn chủ yếu về đất đai trong thời gian qua có nguyên nhân từ kinh tế, trong đó nổi lên rõ nhất là việc đền bù...

Thu hồi đất điều quan trọng là phải tạo ra điều kiện
cần và đủ cho một cuộc sống mới của người dân
Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi đang được đưa ra lấy ý kiến đã nhận được sự quan tâm của hầu hết người dân cả nước. Sau 2 tháng, đã có gần 7 triệu ý kiến đóng góp sửa đổi Luật Đất đai về nhiều nội dung như trình tự, thủ tục cưỡng chế thu hồi đất, quyền lợi và trách nhiệm của người được giao quyền sử dụng đất, chủ sở hữu đất đai và đại diện chủ sở hữu… trong đó các vấn đề về bồi thường cho người dân bị thu hồi đất được khá nhiều ý kiến quan tâm.
Phân biệt rõ “bồi thường” với “hỗ trợ”
Theo GS Nguyễn Quang Thái, Ủy viên Hội đồng tư vấn Kinh tế, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, hệ thống quản lý đất đai tuy được hình thành và hoàn thiện, nhưng vẫn còn nhiều lỗ hổng về pháp lý, kỷ cương thực thi và giám sát. Vì vậy những xung đột xung quanh đất đai giữa người dân có đất với doanh nghiệp và chính quyền ngày càng phức tạp. Nguyên nhân chủ yếu vẫn là những mâu thuẫn kinh tế, trong đó nổi lên rõ nhất là việc đền bù. Đã có nhiều quy định về việc đền bù, đảm bảo kế sinh nhai cho người dân bị thu hồi đất, nhưng trên thực tế những quy định đó vẫn còn nhiều nơi chưa thực hiện đầy đủ. Và bản thân một số quy định cũng chưa đảm bảo được lợi ích lâu dài cho người dân bị thu hồi đất.
Ông Nguyễn Văn Tuấn, Phó Chủ nhiệm Hội doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt-Đức cũng cho rằng, việc dân khiếu kiện nhiều trong thời gian vừa qua có nguyên nhân là do việc có những văn bản liên quan đến đất đai chưa đúng với Hiến pháp. Vì không đúng nên người nhân dân có cơ sở để khiếu kiện và khiếu kiện kéo dài.
Theo ông Phạm Gia Hải, Ủy viên Hội đồng tư vấn về Kinh tế, hiện nay mắc mớ nhất là vấn đề về bồi thường. Vì thế, dự thảo Luật phải làm rõ khái niệm “bồi thường”. “Bồi thường cái gì, người dân suy nghĩ gì khi giải tỏa. Họ suy nghĩ hai vấn đề: Cuộc sống của họ sẽ như thế nào, và họ ở như thế nào. Luật mới đề cập đến việc bồi thường giá trị đất và nhà cửa bị phá đi. Còn việc đảo lộn cuộc sống của người dân thì chưa đề cập đến, hoặc đưa sang phần hỗ trợ. Hỗ trợ thì luôn co giãn, cho nên phải quy định thật rõ nội dung bồi thường gồm những gì”.
Ông Phạm Gia Hải dẫn lời của Phó Giám đốc Sở Tài nguyên môi trường Hà Nội mà ông tâm đắc rằng, khi tổ chức thực hiện một dự án cần phải qua 3 giai đoạn, gồm: công tác chuẩn bị, tổ chức thực hiện và tái định cư, hậu tái định cư. Nhưng ở đây những chủ đầu tư mới chỉ tổ chức thực hiện dự án, bỏ qua giai đoạn 1 và 3. Nhiều dự án vừa công bố đã tiến hành giải phóng mặt bằng ngay. Thực tế đối với người dân, việc thay đổi chỗ ở và toàn bộ cuộc sống sinh hoạt và có thể ảnh hưởng đến cả phong tục tập quán của cộng đồng dân cư. Điều này tạo ra phản ứng ngược, hoặc người dân tìm cách cản trở quyết định đầu tư để giải quyết vướng mắc. Cần công khai bản quy hoạch từ 2 năm trở lên và chỉ rõ những hộ dân tái định cư sẽ được di chuyển đến đâu để họ có sự chuẩn bị trước, đồng thời phải có các cuộc điều tra xã hội học về việc làm, học hành của người dân. Điều quan trọng là phải tạo ra điều kiện cần và đủ cho một cuộc sống mới. 
Ông Hải cũng đồng tình với quan điểm, bồi thường phải xem xét gồm những nội dung gì, chứ không đơn thuần là chỉ bồi thường cái nhà phá đi hoặc bồi thường đất, mà còn cả cuộc sống của người dân. “Nhiều dự án tiền hỗ trợ còn nhiều hơn tiền bồi thường, cho nên phải định danh cho rõ. Phần nào là hỗ trợ, phần nào là bồi thường”- ông Hải đề nghị.
Ông Nguyễn Văn Tuấn, Phó Chủ nhiệm Hội doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt-Đức cho rằng, theo quy định của Nhà nước đất đai là sở hữu toàn dân, nghĩa là người dân có quyền sở hữu, Nhà nước chỉ quản lý về đất đai. Và trong điều 72 dự thảo Luật quy định rõ: “Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất, nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại điều 72 của Luật thì được bồi thường bằng giao đất mới có cùng mục đích sử dụng đất với loại đất vị thu hồi. Nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền”.
Theo ông Tuấn, cần phải làm rõ khái niệm “bằng tiền” trong Luật, nghĩa là phải bằng tiền Nhà nước thu của đơn vị mới. Nếu như vậy dân sẽ không thắc mắc. “Còn nếu “bằng tiền” mà thấp hơn tiền thu của đơn vị mới thì dân sẽ thắc mắc và mâu thuẫn sẽ không bao giờ chấm dứt. Hiện nay đang có tình trạng Hiến pháp quy định một đằng, thực hiện một nẻo. Như vậy phải sửa những điều chưa hợp lý trong Luật Đất đai, có sửa được điều này chắc chắn sự khiếu kiện sẽ được chấm dứt”- Ông Tuấn nói.
Phải tính cả thời gian sử dụng của hộ dân trên mảnh đất
Ông Trần Văn Tư, Trưởng pḥòng Cơ chế chính sách, Ban chính sách pháp luật, Tổng Liên Đoàn Lao động Việt Nam cho rằng, giá đất khi thu hồi và giá đất khi giao có sự chênh lệch nhau. Giá đất khi giao là “giá cả”, nhưng khi thu hồi là giá trị chưa tính đủ. “Vậy Nhà nước định giá chính là giá trị, mà giá trị chưa tính đủ. Chúng ta mới chỉ tính giá hiện tại của đất tại thời điểm đó. Chúng ta phải tính thời gian sử dụng của hộ dân trên mảnh đất của họ. Nếu Luật quy định là 50 năm, giá trị của mảnh đất đó cũng được tính như vậy, để người dân nhận được giá trị đó và đảm bảo cuộc sống của họ sau này. Nếu không chúng ta sẽ mắc phải tình trạng như vừa qua là các gia đình nhận tiền bồi thường xong là cha con lục đục, tệ nạn xã hội xâm nhập vào các địa phương đó. Sắp tới, trong quá trong xây dựng Luật ngay từ Chương đầu, nguyên tắc xây dựng Luật phải được cụ thể, để các Chương sau chỉ việc tham chiếu, tuân thủ theo các nguyên tắc đó”.
Ông Phạm Ngọc Thảo, nguyên Phó Chủ tịch MTTQ TP Hà Nội cũng cho rằng, Luật cần quy định rõ về nguyên tắc cơ bản khi thu hồi đất để một mặt đảm bảo quyền năng của cơ quan quản lý Nhà nước, trong việc điều tiết giao đất cho người lao động thực sự có nhu cầu để việc sử dụng đất thực sự có hiệu quả.
Theo ông Thảo, về các trường hợp thu hồi đất, trong Luật sửa đổi lần này phạm vi mục đích thu hồi đất quá rộng, không giới hạn cho việc thu hồi đất. Điều này gây khó khăn cho người dân đang sử dụng đất và có thể dẫn tới tình trạng ép dân để thu hồi đất. Luật cũng nên quy định các chính sách kèm theo đối với người dân bị thu hồi đất, vì càng cụ thể bao nhiêu, càng dễ thực hiện bấy nhiêu, tránh trường hợp “lách luật” dẫn tới nhiều vi phạm về đất đai như trong thời gian vừa qua.
Về nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất, ông Thảo đề nghị có một khoản quy định về phương thức bồi thường khác nhau đối với thu hồi đất vì mục đích khác nhau. Trong đó việc thu hồi vì mục đích an ninh quốc phòng thì khác với thu hồi để kinh doanh nhà ở. “Về phương thức, thủ tục, giá cả và trình tự phải khác nhau vì mục đích, ý nghĩa của việc thu hồi khác nhau. Quy định đó sẽ hạn chế được việc lạm dụng quỹ đất để làm giàu cho doanh nghiệp kinh doanh, gây thất thoát, lãng phí đất và thiệt thòi cho người dân”- Ông Thảo nói.
Ông Thảo cũng đề nghị, về quy định cưỡng chế khi thu hồi đất, cũng chỉ nên quy định cưỡng chế trong trường hợp người bị thu hồi đất vi phạm pháp luật, để hạn chế việc các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền lạm dụng quyền lực để cưỡng chế người dân bị thu hồi đất khi mà chính các cơ quan thu hồi đất vi phạm về chính sách, gây thiệt hại cho người dân./.

Nguyễn Quang Vinh - Cứ hồn nhiên … Làu bàu


Cái nước mình rất lạ
Cái nước mình rất vui
Cái nước mình nó  thế
Quen đi sẽ ổn thôi

Hễ thấy chữ “cấm  đái”
Yên tâm mà vén vô
Hễ thấy chữ “  cấm  chợ”
Y như mua tha hồ

Hễ thấy chống tham  nhũng
Là nhan nhãn nhũng tham
Hễ thấy nói giữ giá
Là chắc giá lên thôi

Hễ nói xăng ổn định
Là ngày mai tăng rồi
Hễ nói đến “quyết liệt”
Là thôi rồi …mồng tơi

Cái nước  mình hay thiệt
Cái chi cũng phần trăm
100 % đồng thuận
100% tiến lên
100% tin tưởng
100% xóa mù
100% tốt nghiệp
100% an toàn

Cái nước mình yêu quá
Đông người là “tụ tập”
Kiện đông là âm mưu
Một bài thôi “ cưỡng chế”
Từ đất đai sang người

Cái nước mình quý lắm
Thằng tài đói nhăn răng
Thằng dốt mà bắng nhắng
Có khi mua nhà băng

Cái nước  mình rảnh  quá
Em chân dài mang váy
Em chân dài cưới chồng
Em chân dài lộ mông
Báo đưa tin hầm hập
Đến khi  mà  có chuyện
Đáng đưa cho dân xem
Thì  lại im thin thít
Không biết đâu mà lần

Cái nước mình quá đã
Thành đạt thành “tống đạt”
Như hoa hậu quý bà
Giàu lắm tên là Nga…
Mới hôm qua là đốc
Nay thành bị can ngay
Mới hôm qua hoa hậu
Sáng hôm nay bắt rồi….


 Cái nước mình là thế
Vì thế cũng quen thôi
Nói xuôi  nên hiểu ngược
Rứa là sống ngon thôi

Cái nước mình vui nhỉ?
Hèn chi kịch phải lùi
Ngoài đời quá nhiều kịch
Lại kịch hài hẳn hoi.

Ừ thì cười  một phát
Ừ thì mần chi nhau
Cái nước mình nó  thế
Cứ hồn nhiên làu bàu….

Vàng: Ngân hàng nhà nước “xiếc” công luận?


Võ Văn Tạo

Nhà báo Võ Văn Tạo (phải)
Báo Tuổi Trẻ ngày 27-4 có bài Đấu thầu vàng không phải để bình ổn giá. Bài báo cho biết, tại cuộc họp báo chiều 26-4 của Văn phòng Chính phủ, trước thực trạng khó hiểu: sau mỗi phiên Ngân hàng nhà nước đưa vàng ra bán đấu thầu, giá vàng trong nước càng tăng, càng bỏ xa giá vàng thế giới, Phó Thống đốc Ngân hàng nhà nước Lê Minh Hưng biện bạch: “Khi Ngân hàng nhà nước tham gia bình ổn thị trường vàng thông qua hoạt động đấu thầu vàng miếng thì Ngân hàng nhà nước đã công bố rõ: đây là hoạt động bình ổn thị trường và Ngân hàng nhà nước không bình ổn giá”(!).
Người đại diện Ngân hàng nhà nước tung ra cái hỏa mù: Ngân hàng nhà nước (bán) đấu thầu vàng là góp phần tăng lượng cung trên thị trường vàng. Nếu không, trong bối cảnh không cấp phép nhập vàng để sản xuất vàng miếng, thị trường trong nước còn biến động rất mạnh.
Thế nhưng, ông Hưng lảng tránh câu hỏi: tại sao Ngân hàng nhà nước không cấp phép nhập vàng cho sản xuất vàng miếng, ngõ hầu tăng hơn nữa lượng cung, đủ mức để ổn định, cân bằng thị trường vàng? Trên báo chí, tại các diễn đàn, nhiều chuyên gia đã cảnh báo tình trạng giá vàng trong nước suốt mấy năm quá cao so với thế giới là động lực ghê gớm thúc đẩy hoạt động gom ngoại tệ để nhập lậu vàng, ngân sách thất thu thuế, không lực lượng chống buôn lậu nào ngăn nổi. Lại nữa, vàng càng tăng giá, người ta càng có xu hướng ẩn náu vào vàng, hạn chế bỏ vốn vào sản xuất kinh doanh. Đương nhiên, lực hút của vàng cũng làm giảm chi tiêu mua sắm hàng hóa, hậu quả là sản xuất điêu đứng. Giá vàng trong nước biến động cao bất thường suốt thời gian dài – ai được, ai mất? phương hại đời sống kinh tế – xã hội đến mức nào?
Dưới nhãn quang kinh tế học, một cách hài hước, luận điểm “Khi Ngân hàng nhà nước tham gia bình ổn thị trường vàng thông qua hoạt động đấu thầu vàng miếng thì Ngân hàng nhà nước đã công bố rõ: đây là hoạt động bình ổn thị trường và Ngân hàng nhà nước không bình ổn giá” của đại diện Ngân hàng nhà nước đáng được lấy làm đề tài luận án tiến sĩ ngành ngân hàng, đem bảo vệ trước Hội đồng nơi chú Cuội – chị Hằng và nhận giải Nobel kinh tế trên sao Hỏa, bởi ý tưởng trên cực kỳ “mới”, có thể coi là phát minh “độc đáo”.
Lịch sử kinh tế học, khi đề cập đến thị trường, các kinh tế gia, thuộc mọi trường phái Đông – Tây, kim – cổ, chưa bao giờ hình dung nổi một kiểu thị trường không liên quan, dính dáng gì đến giá cả, kể cả ở thị trường sơ khai hàng đổi hàng, thời chưa xuất hiện tiền tệ là vật trao đổi trung gian – thời “1 cái rìu = 5 con dê”. Ai có hiểu biết về kinh tế học cũng đều biết điều sơ đẳng: đề cập đến thị trường, không thể không gắn liền với giá cả. Không chỉ vậy, cùng với các yếu tố cơ bản như tổng cung thị trường, tổng cầu thị trường, giá cả là yếu tố xuyên suốt, bao trùm mọi khía cạnh và động thái của thị trường. Nói một cách khác, không có yếu tố giá cả, không có khái niệm thị trường. Quy luật chung của kinh tế thị trường là, khi tổng cung tăng, giá cả sẽ giảm. Nghĩ nát óc, người có kiến thức kinh tế cũng không thể hiểu, bằng cách nào, Ngân hàng nhà nước, trong khi không đặt mục tiêu bình ổn giá vàng, mà lại có thể nhắm tới và thực hiện được bình ổn thị trường vàng? Thị trường là khái niệm kinh tế học, diễn giải nôm na là cái chợ. Có cái chợ nào không dính tới giá cả?
Thực tế, trên thị trường vàng Việt Nam gần đây, sau những phiên Ngân hàng nhà nước tung hơn 12 tấn vàng ra bán, giá vàng không những không giảm, mà lại càng tăng. Phải chăng, đây là đặc điểm riêng có của phương thức quản lý kinh tế thị trường, gắn cái đuôi định hướng ....?!
Không cần thông minh cũng hiểu, trước hiện tượng tréo ngoe: càng tung vàng ra bán đấu thầu, giá vàng càng lên, càng bỏ xa giá vàng thế giới, lập luận “Ngân hàng nhà nước không bình ổn giá” nhằm tránh cơn giận dữ chính đáng của công luận, trước thực tế suốt mấy năm nay, giá vàng trong nước luôn cao chót vót, chênh lệch có thời điểm lên tới 7 triệu đồng/lượng so với giá vàng trên thị trường thế giới. Và hệ quả của nó, đến các bà nội trợ cũng thấm thía, vàng lên giá không chỉ là chuyện của những người cầm vàng.
Vàng cao bất thường, tác động lên giá cả, từ hàng hóa tiêu dùng, dịch vụ thiết yếu… đến giá nhà ở, bất động sản, vật tư nguyên liệu sản suất… còn trực tiếp và dữ dội hơn tác động của các phương tiện dự trữ, thanh toán khác như ngoại tệ, đá quý, chứng khoán… Việc giá vàng trong nước liên tục “nổi điên”, không thể không phương hại dữ dằn đến sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội.
Hiện tượng thực tế hơn 12 tấn vàng được Ngân hàng nhà nước tung ra bán, càng làm thị trường vàng trong nước lên cơn khát, làm giới kinh tế suy đoán hai khả năng. Một là, lượng cung tăng như muối bỏ biển trước nhu cầu của các ngân hàng thương mại và người dân. Nếu tiếp tục bán ra mà không nhập khẩu để thay thế, bổ sung, chẳng mấy nữa, dự trữ vàng trong ngân khố quốc gia làm sao tránh khỏi về “mo”? Nếu không bán nữa, làm sao giá vàng có thể hạ? Hai là, không loại trừ khả năng giới đầu cơ ở các ngân hàng thương mại tin chắc ở khả năng vẫn lũng đoạn được cơ chế điều hành vàng của Ngân hàng nhà nước – tới đây, Ngân hàng nhà nước sẽ tiếp tục không cấp phép nhập vàng, giá vàng trong nước vẫn tiếp tục tăng, duy trì mức chênh lệch lớn so với giá vàng thế giới.
“Ngân hàng nhà nước không bình ổn giá” – Ô hay! Ngân hàng nhà nước đứng ở đâu trong vai trò quản lý nhà nước đối với nền kinh tế và đời sống xã hội? Kìm hãm mức tăng của chỉ số giá cả là mục tiêu tối quan trọng của Chính phủ, đến mức hầu như phiên họp nào cũng bàn tới. Nhưng đó là chuyện của Chính phủ,  Ngân hàng nhà nước bất biết, bất cần?
Thị trường là thị trường, chẳng liên quan gì đến giá cả? Bình ổn thị trường không dính dáng gì đến bình ổn giá cả? Với lập luận: “Khi Ngân hàng nhà nước tham gia bình ổn thị trường vàng thông qua hoạt động đấu thầu vàng miếng thì Ngân hàng nhà nước đã công bố rõ: đây là hoạt động bình ổn thị trường và Ngân hàng nhà nước không bình ổn giá”, Ngân hàng nhà nước đang diễn xiếc trước công luận?
V.V.T.

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Web Hosting Coupons