This is featured post 1 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha - Premiumbloggertemplates.com.
This is featured post 2 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha - Premiumbloggertemplates.com.
This is featured post 3 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha - Premiumbloggertemplates.com.
15 thg 4, 2013
Thuế thu nhập cá nhân sửa đổi: Bòn nơi khố rách, đãi nơi quần hồng?
(Phapluattp) – Trong khi dư luận đang nóng lên với việc hàng loạt nghệ
sĩ có tên tuổi nhiều năm qua đóng thuế thua người làm công ăn lương thì Luật
thuế thu nhập cá nhân sửa đổi có hiệu lực từ ngày 1-7 tới tiếp tục đặt trọng
tâm thu thuế thu nhập cá nhân vào đối tượng làm công ăn lương.
Theo dự thảo nghị định và thông tư
hướng dẫn Luật thuế thu nhập cá nhân sửa đổi, người lao động thời vụ hoặc có
thu nhập ở nơi thứ hai trở lên, sinh viên làm thêm... cứ có thu nhập 1 triệu đồng
trở lên vẫn bị khấu trừ 10% dù từ ngày 1-7 tới mức giảm trừ của người nộp thuế
đã được nâng lên 9 triệu đồng/tháng, còn người phụ thuộc được tăng lên mức 3,6
triệu đồng.
Tính toán đơn giản cũng thấy được rằng
ứng với mức giảm trừ mới từ ngày 1-7, người lao động phải có thu nhập trên 108
triệu đồng/năm chưa kể người phụ thuộc mới phải nộp thuế thu nhập cá nhân ở bậc
1, với tỉ lệ khấu trừ 5%. Còn mức khấu trừ 10%, tương đương với người có thu nhập
ở bậc 2, tức phải trên 14 triệu đồng/tháng trở lên, tương đương 168 triệu đồng/năm
trở lên chưa tính giảm trừ cho người phụ thuộc.
Trong khi thực tế số người thu nhập
vãng lai có thu nhập đến mức này rất ít vì đa số lao động vãng lai có thu nhập
thấp và không thường xuyên. Nếu cứ chặn trừ trước 10% mỗi khoản thu nhập trên 1
triệu đồng để đảm bảo chắc ăn thu được thuế thì sẽ thiệt thòi cho người làm
công ăn lương vì thu nhập ít, không đủ sống nhưng một phần thu nhập lại bị chiếm
dụng suốt một năm. Cuối năm lại phải vất vả đi hoàn thuế.
Cụ thể, theo thống kê của Cục Thuế
TP.HCM, phần lớn hồ sơ có số tiền hoàn rất ít, thậm chí có trường hợp số thuế
hoàn chỉ hơn 20.000 đồng. Còn nhiều nhất là những hồ sơ có số thuế hoàn chỉ vài
trăm nghìn đồng. Sự tính toán chi li của nhà làm chính sách không chỉ làm khổ
người lao động nghèo mà còn tạo ra sự quá tải mỗi kỳ quyết toán. Cơ quan thuế
thay vì tập trung quản lý nguồn thu lại mất nhiều tháng trời tập trung hoàn thuế
cho người lao động. Năm nay, số hồ sơ xin hoàn thuế tại Cục Thuế TP.HCM tính đến
đầu tháng 4 đã vượt con số 6.000 và vẫn chưa dừng lại. Trước đó, kỳ quyết toán
thuế năm 2011 có đến 10.000 người xin hoàn thuế thu nhập cá nhân, gấp hơn ba lần
so với năm 2010.
Cơ quan thuế than chỉ giải quyết bấy
nhiêu hồ sơ đã mất vài tháng, không có lực lượng và thời gian để quản lý đối tượng
thu nhập cao hơn như: ca sĩ, diễn viên, MC, bác sĩ... - những người mà số thuế
thu nhập cá nhân mỗi năm lên đến vài trăm triệu đồng. Nếu giảm bớt số hồ sơ
hoàn thuế, lực lượng cơ quan thuế sẽ tập trung thu các đối tượng trên, vừa ít tốn
thời gian vừa mang lại số thu cao hơn.
Giải quyết bất cập này, theo các
chuyên gia, chỉ nên áp dụng mức thu 5% thu nhập với lao động vãng lai. Nếu chẳng
may những đối tượng này không quyết toán để nộp thêm thì cũng chỉ “lọt sàng xuống
nia”, chẳng đáng là bao. Đằng này lúc nào cơ quan quản lý cũng lo sót thuế nên
tìm mọi cách tận thu người làm công ăn lương, trong khi bỏ bẵng các đối tượng
có thu nhập rất cao khác. Nếu tình trạng này kéo dài chẳng khác nào “bòn nơi khố
rách, đãi nơi quần hồng”, dẫn đến tâm lý ức chế nơi người tuân thủ nghĩa vụ nộp
thuế.
Luật sư Trần Xoa, giám đốc Công ty
luật Minh Đăng Quang, cho rằng trước đây mức khấu trừ thuế dành cho người có
thu nhập vãng lai là 1 triệu đồng, tương đương 1/4 mức khởi điểm chịu thuế, nay
mức khởi điểm chịu thuế tăng lên 9 triệu thì nên nâng mức khấu trừ lên 3 triệu
đồng, như vậy số người thuộc diện hoàn thuế sẽ giảm mạnh. Khi đó, không chỉ đỡ
khổ cho người nộp thuế mà cơ quan thuế cũng có thời gian tập trung vào chuyên
môn thay vì phải lo giải quyết chuyện hoàn thuế.
Sừng tê giác hoàn toàn không có tác dụng chữa bệnh
(Vietnamnet) - Các nghiên cứu khoa học đều chứng minh, sừng tê giác
hoàn toàn không có tác dụng chữa bệnh giống như những lời đồn đoán.
![]() |
| Tê giác 1 sừng |
Sừng tê giác chữa bách bệnh?
Sừng tê giác được coi là một vị thuốc
thần diệu của y học cổ truyền Trung Quốc. Hàng ngàn năm, y học cổ truyền Trung
Quốc dùng sừng tê để chữa một số lớn các bệnh có phổ rộng bất thường từ sôi bụng
đến ung thư, thậm chí cả bệnh do ma quỷ ám.
Do ảnh hưởng của Trung Quốc, người
Việt Nam cũng cho là như vậy. Khi các đất nước này còn nghèo, không ai nghĩ đến
sừng tê giác, nhưng kinh tế phát triển, xuất hiện nhiều người giàu có, thị trường
tiêu thụ sừng tê giác bỗng hồi sinh.
Theo sách kinh điển của Y học Trung
Hoa là “Bản thảo cương mục” của Lý Thời Trân, được dịch vào năm 1931 ghi lại
1597 dược liệu thì sừng tê giác đã được coi là chữa bách bệnh. Trớ trêu thay,
có vẻ như tác dụng thần hiệu của sừng tê giác không đề cập một câu nào đến một
căn bệnh là mục tiêu chính làm các “đại gia” tìm đến nó là chữa các bệnh giảm
ham muốn tình dục.
Mặc dù Trung Quốc là một nước đã ký
kết Công ước thế giới về buôn bán các loài có nguy cơ tuyệt chủng (CITES) và cấm
kinh doanh sừng tê giác năm 1993, nhưng điều tra mức độ săn trộm tê giác hiện tại
cho thấy rằng ở nước này việc sử dụng sừng tê giác không suy giảm.
Vậy sừng tê giác có tác dụng chữa bệnh
như người ta vẫn đồn đoán?
Đưa sừng tê giác vào phòng thí nghiệm
Trong một nỗ lực để bác bỏ những
tính chất chữa bệnh thần kỳ gán ghép cho sừng tê giác, các khà khoa học đã đưa
sừng tê giác vào phòng thí nghiệm y học.
Việc thử nghiệm tác dụng trị liệu của
sừng tê giác đã được thực hiện vào năm 1983 do các nhà nghiên cứu tại Hãng dược
phẩm hàng đầu Hoffmann-LaRoche, và sau đó 25 năm là một nghiên cứu của Hội Động
vật học London. Cả hai nghiên cứu đi đến kết luận tương tự: sừng tê giác không
chứa các hoạt chất đặc biệt nào có khả năng trị bệnh.
Ngoài ra, một công trình nghiên cứu
khác nữa do các nhà khoa học Trường ĐH Trung Quốc ở Hong Kong vào năm 1990. Mặc
dù các nhà khoa học ở đây cố gắng chứng minh “một cái gì đó sâu sắc” của Y học
cổ truyền Trung Hoa nhưng vẫn không thể tìm ra một bằng chứng hỗ trợ nào cho
tính chữa bệnh của sừng tê giác.
Năm 1983, Quỹ Động vật Hoang dã Thế
giới (WWF) và Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên (IUCN) công bố kết quả của nghiên cứu
dược lý mà các nhà khoa học đã tiến hành tại Phòng thí nghiệm của Công ty dược
phẩm Hoffmann-LaRoche trên Tạp chí The Environmentalist.
Nghiên cứu "không tìm thấy bằng
chứng nào chứng tỏ sừng tê giác có tác dụng chữa bệnh dù dễ nhất như hạ sốt”.
"Sừng tê giác về bản chất hoá học giống như chiếc móng tay, được làm bằng
tóc kết bó lại với nhau mà thôi". Đó là kết luận của nghiên cứu khoa học.
Các thử nghiệm khẳng định rằng
“không có khả năng hạ sốt, không có khả năng chống viêm, không có khả năng giảm
đau, không có khả năng chống co thắt, không có khả năng làm lợi tiểu” mà cũng
“chẳng có tác dụng diệt vi khuẩn gây mưng mủ và vi khuẩn đường ruột” .
Tiến sĩ Arne Schiotz của WWFkết luận:
"Điều này chứng tỏ rằng sừng tê giác là không mang lại lợi ích cho bất cứ
ai, trừ người chủ ban đầu của nó mà thôi”.
Tất cả chỉ là huyền thoại
Phân tích khoa học đã khẳng định rằng
coi sừng tê giác là một thần dược chỉ là huyền thoại, nhưng huyền thoại ấy vẫn
tồn tại ở hàng triệu người. Vì sao vậy ?
Đơn giản là vì người tiêu dùng sừng
tê giác không truy cập vào thông tin chính xác.
Đề nghị công nhận “sở hữu tư nhân hạn chế” về đất đai bên cạnh “sở hữu toàn dân”.
Nhiều kiến nghị Hiến pháp liên quan đất đai
(Vietnamnet) - MTTQ Việt Nam đề nghị công nhận sở hữu tư nhân hạn chế về
đất đai bên cạnh sở hữu toàn dân.
Thông qua Quốc hội (QH), Chính phủ
(CP), TANDTC, VKSNDTC, MTTQ Việt Nam, Ban chỉ đạo Cải cách tư pháp TƯ..., các ý
kiến của nhân dân góp ý cho dự thảo sửa đổi Hiến pháp (HP) trong ba tháng qua
đã được tổng hợp phân tích. Nhiều báo cáo tổng hợp, kèm theo kiến nghị đã được
chuyển cho UB dự thảo HP sửa đổi.
Tất cả quyền lực thuộc về nhân dân
Ở các vấn đề chung của HP, CP đề
nghị Lời nói đầu viết gọn lại, theo hướng thể hiện vai trò của HP trong lịch sử
dân tộc và trong nhà nước pháp quyền, là đạo luật cơ bản của Nhà nước và xã hội,
do nhân dân đồng lòng xây dựng và thi hành. Đây cũng là ý kiến tổng hợp từ
nhánh lập pháp. MTTQ Việt Nam và CP còn chung quan điểm quyền lập hiến thuộc về
nhân dân, trong đó MTTQ kiến nghị HP sau khi được QH thông qua phải được trưng
cầu dân ý trước khi có hiệu lực.
Về điều 2 dự thảo, cũng như Ban chỉ
đạo Cải cách tư pháp TƯ và MTTQ Việt Nam, CP kiến nghị không đưa vấn đề nền tảng
giai cấp vào HP. Như vậy là kế thừa tinh hoa của các bản HP trước đây, trong đó
HP các năm 1946, 1959, 1980 chỉ quy định ngắn gọn tất cả quyền lực thuộc về
nhân dân, không có phần đuôi “nền tảng là liên minh giai cấp...”.
Đáng chú ý, CP với Thủ tướng là người
đứng đầu và Ban chỉ đạo Cải cách tư pháp TƯ do Chủ tịch nước làm trưởng ban có
chung kiến nghị là bổ sung vào HP chế định Hội đồng Tư pháp quốc gia do Chủ tịch nước
làm chủ tịch. Hội đồng có chức năng phối hợp các nhánh lập pháp, hành pháp, tư
pháp thực hiện các nhiệm vụ hành chính - tư pháp nhằm hỗ trợ, thúc đẩy độc lập
của tòa án - cơ quan thực hiện quyền tư pháp, nhiệm vụ chính là xét xử.
MTTQ Việt Nam, CP và Ban chỉ đạo Cải
cách tư pháp TƯ còn gặp nhau ở kiến nghị bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn cho Hội đồng
HP, trong đó đáng chú ý là quyền giải thích HP (chuyển từ Ủy ban Thường vụ QH
sang), và bổ sung quyền xem xét và quyết định áp dụng chế tài đối với các văn bản
pháp luật vi hiến (chẳng hạn thẩm quyền tạm đình chỉ thi hành văn bản vi hiến
và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bãi bỏ...).
Cũng giống như Ban chỉ đạo Cải cách
tư pháp TƯ và TANDTC, CP kiến nghị chuyển thẩm quyền giải thích luật từ Ủy ban
Thường vụ QH sang cho TANDTC. Ngoài ra, bổ sung cho TANDTC thẩm quyền ban hành
án lệ, phù hợp với tinh thần nghị quyết 48 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng
và hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Sở hữu đất đai
Về vấn đề sở hữu đất đai, các trường
hợp Nhà nước thu hồi đất, cả ở CP và MTTQ Việt Nam đều có những tranh luận. Nổi
lên là hai quan điểm: Bỏ quy định Nhà nước thu hồi đất với các dự
án phát triển kinh tế - xã hội. Thay vào đó, trong trường hợp cần thiết
thì coi đó là thu hồi vì lợi ích công cộng, hoặc để QH quyết định danh mục các
dự án phát triển kinh tế - xã hội quan trọng, vì lợi ích quốc gia, lợi ích công
cộng thực hiện theo cách QH, CP quyết định thu hồi đất.
Đáng chú ý, kiến nghị của MTTQ Việt
Nam đề
xuất phương án thừa nhận sở hữu tư nhân hạn chế về đất đai bên cạnh
nguyên tắc chung là đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản
lý.
Tất cả ý kiến trên đã được Ủy ban dự
thảo HP sửa đổi tiếp thu, thể hiện thành nhiều phương án để thảo luận rộng rãi.
Bản dự thảo HP mới được Ủy ban Thường vụ QH thảo luận hôm nay, 12/4. Sau đó dự
thảo sẽ được hoàn chỉnh thêm để chuẩn bị đưa ra hội nghị Trung ương 7 (dự kiến
khai mạc vào đầu tháng 5) để thảo luận tiếp. Kỳ họp QH khai mạc nửa cuối tháng
5 sẽ tiếp tục góp ý cho dự thảo HP này và như vậy nhân dân sẽ tiếp tục tham gia
ý kiến về sửa đổi HP ở bản dự thảo mới tới hết tháng 9.
Kiến nghị “trưng mua” thay cho “thu hồi” đất
(Thanhnien) - Tại Hội nghị lấy ý kiến về dự thảo luật Đất đai sửa đổi,
do Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam tổ chức sáng 12.4, nhiều thành viên Hội đồng
tư vấn của MTTQ kiến nghị cần bịt kẽ hở tùy tiện, lạm dụng quyền lực trong cưỡng
chế thu hồi đất, không giao cơ quan hành pháp được quyền thu hồi đất mà chỉ được
trưng mua.
Triệt tiêu tình trạng lạm quyền
Nhìn nhận cưỡng chế thu hồi đất là
vấn đề “cực kỳ bức xúc”, nguyên Phó chủ tịch MTTQ TP.Hà Nội Phạm Ngọc Thảo,
thành viên Hội đồng tư vấn (HĐTV) dân chủ pháp luật đề nghị bổ sung một khoản
quy định trong dự luật Đất đai sửa đổi “chỉ cưỡng chế thu hồi đất khi người bị thu
hồi đất vi phạm pháp luật”, nhằm hạn chế việc các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền lạm dụng quyền lực để cưỡng chế, gây thiệt hại cho người dân, khi
chính các cơ quan thu hồi đất vi phạm chính sách. Theo đó, điều 71 cần được bổ
sung một khoản quy định rõ “việc cưỡng chế thực hiện quyết định, kế hoạch thu hồi
đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm, quyết định thu hồi đất được thực hiện
trong trường hợp người bị thu hồi đất vi phạm pháp luật và chống đối sau khi đã
được giải quyết đúng chính sách pháp luật về thu hồi đất”.
“Quy định như vậy sẽ buộc các cơ
quan có thẩm quyền phải thực hiện nghiêm túc chính sách pháp luật về thu hồi đất
mà không thể tùy tiện áp đặt. Sau đó nếu người dân bị thu hồi đất cố tình vi phạm
thì mới cưỡng chế. Điều này sẽ tránh được tình trạng lạm dụng quyền lực để cưỡng
chế, ép buộc người dân mà có tới 70-80% vụ việc là do cơ quan nhà nước sai phạm
trong những năm vừa qua”, ông Thảo lý giải. Ông cũng kiến nghị thêm: “Cần
bỏ quy định tại khoản 3 điều 71 về việc Chính phủ quy định việc thu hồi, cưỡng
chế mà nên quy định luôn trong luật để người dân được rõ, từ đó có ý thức chấp
hành và giám sát việc thực hiện”.
GS Nguyễn Lang, thành viên HĐTV về
kinh tế của MTTQ, cũng đề nghị dự luật sửa đổi cần làm rõ quyền hạn và trách
nhiệm của Quốc hội (với tư cách là đại diện chủ sở hữu toàn dân đối với đất
đai) và Chính phủ (với trách nhiệm thực hiện sự thống nhất quản lý nhà nước)
trong việc tổ chức khai thác tài nguyên đất một cách tiết kiệm với hiệu quả
cao. Theo GS Lang, quy định rõ để đồng thời bảo đảm quyền làm chủ của người nhận
quyền sử dụng đất, khắc phục tình trạng lạm dụng quyền lực để thu hồi và cưỡng
chế thu hồi đất dẫn đến khiếu nại, tố cáo làm tăng bất đồng xã hội, ảnh hưởng xấu
đến trật tự an ninh xã hội.
Không giao cơ quan hành pháp thu hồi đất
Liên quan đến quy định thu hồi đất,
GS Nguyễn Lân Dũng kể lại câu chuyện khi còn làm đại biểu QH. Trong một lần ông
đến một địa phương theo lời mời của một vị đại biểu QH khác, người dân ở đó đã
“vây” chặt lấy ông để hỏi can cớ gì mà ruộng ngô của họ bị thu hồi chỉ để cho một
tư nhân khác trồng cam? Từ câu chuyện này, GS Dũng đề nghị trong luật Đất đai sửa
đổi cần
bỏ khái niệm "thu hồi đất", thay vào đó là "trưng
mua, trưng dụng đất" phù hợp trong từng trường hợp nhà nước lấy đất
của dân phục vụ cho lợi ích quốc gia hay lợi ích công cộng.
GS Nguyễn Lang chỉ ra một trong những
“khiếm khuyết” của dự thảo luật Đất đai sửa đổi là tiếp tục củng cố và nâng cao
quyền thu hồi, cưỡng chế thu hồi đất đã giao cho người dân (chủ yếu là nông
dân). Ông nhấn mạnh việc sửa luật lần này cần khắc phục cho được những thiếu
sót, sai lầm của bộ máy hành pháp trong quá trình quản lý, sử dụng đất đai, tài
sản thuộc quyền sở hữu toàn dân theo hướng hạn chế quyền trưng mua, trưng thu đất,
chỉ sử dụng trong trường hợp thật cần thiết vì lý do an ninh, quốc phòng. “Không
chấp nhận việc giao cơ quan hành pháp quyền thu hồi đất để thực hiện các dự án
phát triển kinh tế xã hội. Trong trường hợp này, chủ đầu tư phải tiến hành thỏa
thuận với người dân đang sử dụng đất để thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng
đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo các hợp đồng dân sự”, GS Lang
góp ý.
Đề nghị thu hẹp phạm vi thu hồi đất
(Phapluattp) - Theo GS Nguyễn Lân Dũng, thu hồi đất để thực hiện các dự
án phát triển kinh tế-xã hội là mở đường cho tham nhũng.
“Việc thu hồi đất để thực hiện
các dự án phát triển kinh tế-xã hội là mở đường cho tham nhũng. Cần loại bỏ việc
lập quy hoạch ở cấp huyện để tránh tình trạng thu hồi đất tùy tiện như hiện
nay. Quy hoạch sử dụng đất phải do Chính phủ làm chứ không thể để cấp nào làm
cũng được” - GS Nguyễn Lân Dũng nhấn mạnh tại hội nghị nêu lên ý kiến
và kiến nghị của nhân dân về dự thảo Luật Đất đai sửa đổi do Ủy ban MTTQ VN tổ
chức sáng 12-4.
Tại hội nghị, nhiều nhân sĩ trí thức
đề nghị ban soạn thảo Luật Đất đai sửa đổi phải xem xét lại vấn đề thu hồi đất,
trong đó bao gồm các trường hợp thu hồi đất và giá cả bồi thường. “Điều 60 của
dự thảo nói về các trường hợp thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển
kinh tế-xã hội là quá rộng. Sau khi liệt kê hàng loạt trường hợp cụ thể lại
“thòng” thêm khoản 9: những vấn đề khác do Chính phủ quy định. Quy định như vậy
là không còn giới hạn nào nữa. Thế nên mới có chuyện có một luật đất đai nhưng
có đến 26, 27 văn bản dưới luật liên quan. Tôi đề nghị thu hẹp phạm vi thu hồi
đất, bỏ hẳn khoản 9 đi” - ông Phạm Văn Thảo, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ Hà
Nội, nói.
Ngoài ra, ông Thảo cũng đề nghị phải
phân biệt các trường hợp thu hồi đất khác nhau để đưa ra các phương thức bồi
thường khác nhau, không thể gộp chung như dự thảo. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc
và quy trình thu hồi đất cho rõ ràng để đảm bảo quyền lợi của người dân.
Nói về vấn đề giá bồi thường, nhiều
ý kiến cũng đề nghị cần tách thẩm quyền của cơ quan thẩm định giá đất khỏi cơ
quan cấp quyền sử dụng đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, giao đất, thu hồi
đất. Có như vậy mới tránh tình trạng vừa đá bóng vừa thổi còi dễ dẫn đến tiêu cực.
Vì vậy cần có một công ty thẩm định giá đất độc lập.
“Tôi gặp nông dân để khảo sát về
việc thực hiện nông thôn mới nhưng vấn đề nông dân tâm tư, bức xúc nhiều lại là
đất đai. Bà con nói: Sống vì đất, lớn lên cũng vì đất, tăng chức cũng vì đất, bất
động sản chết cũng vì đất và ăn “bẩn”, ăn tham nhất cũng là đất. Do đó Luật Đất
đai sửa đổi phải đặt ra quy định công khai, dân chủ trong việc sử dụng, chuyển
nhượng, thu hồi đất để người dân không phải bức xúc như vậy nữa” - ông
Nguyễn Túc, Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn về các vấn đề văn hóa-xã hội, bày tỏ.
Theo ông Túc, với các quy định như
trong dự thảo, dường như Nhà nước có quá nhiều quyền hơn là trách nhiệm, còn
người dân thì ngược lại. Luật Đất đai mới phải sửa đổi làm sao để người dân được
làm chủ nhiều hơn.
Thêm phương án về tên nước: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
(Phapluattp) - Bên cạnh phương án cũ là giữ nguyên tên nước như hiện tại
thì còn có một phương án mới là lấy lại tên nước thời Hồ Chủ tịch đọc tuyên
ngôn độc lập.
Rất nhiều ý kiến của các tầng lớp
nhân dân, trí thức, tổng hợp kiến nghị từ các nhánh cơ quan quyền lực nhà nước
đã được cụ thể hóa thành các phương án diễn đạt trong bản dự thảo mới tiếp thu
ý kiến nhân dân về Hiến pháp (HP), kể cả trong những nội dung lâu nay bị cho là
nhạy cảm.
Lấy lại tên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa?
Cụ thể, Lời nói đầu - phần quan trọng
nhất của bất cứ HP quốc gia nào, giờ được diễn đạt theo hai phương án. Trong
đó, một phương án ngắn gọn, súc tích, dài không quá 180 chữ, khẳng định quyền lập
hiến thuộc về nhân dân. Liên quan đến quyền lập hiến của nhân dân, điều cuối
cùng của dự thảo, bên cạnh quy định cũ có thêm phương án mới: “HP
được thông qua khi có ít nhất 2/3 tổng số ĐBQH biểu quyết tán thành và phải được
trưng cầu dân ý”.
Điều 1 dự thảo tiếp thu, bên cạnh
cách viết cũ (tên nước là CHXHCN Việt Nam), xuất hiện phương án mới, phản ánh
chính xác hình thức chính thể và chủ quyền quốc gia về lãnh thổ: “(1)
Nước VN là một nước dân chủ cộng hòa, độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn
vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời. (2) Tên nước
là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH)”.
![]() |
| Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2-9-1945. |
Phương án này thể hiện ý kiến nhiều
tầng lớp nhân dân, cho rằng VNDCCH là tên gọi gắn liền với sự ra đời của chính
thể cộng hòa đầu tiên ở nước ta, là thành quả của Cách mạng Tháng Tám, đã được
long trọng tuyên bố với nhân dân và toàn thế giới qua bản tuyên ngôn độc lập do
Hồ Chủ tịch tuyên đọc ngày 2-9-1945 lịch sử. Tên gọi ấy được khẳng định trong
HP 1946, 1959 và chỉ chính thức được thay đổi bởi HP 1980. Tên nước ấy gắn với
hai cuộc kháng chiến, hai cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc và Tây Nam và
công cuộc xây dựng đất nước. Về mặt pháp lý, tính đến thời điểm này, tên gọi ấy
được sử dụng nhiều hơn so với tên nước hiện nay.
Trở lại với VNDCCH tạo ra sức lôi
cuốn, tập hợp đoàn kết dân tộc, tạo đồng thuận toàn xã hội, thuận lợi hơn trong
quan hệ quốc tế, góp phần phát huy, tranh thủ các nguồn lực kiến thiết, phát
triển đất nước, vượt qua tình trạng khó khăn hiện nay. Trở lại với tên gọi ấy
không phải là phủ nhận định hướng XHCN. Định hướng ấy nằm trong nghị quyết của
Đảng, pháp luật của Nhà nước và cả ở những nội dung cần thiết trong HP mới.
Khẳng định nền tảng đại đoàn kết dân tộc
Với nhận thức mới ấy, Điều 2 dự thảo
tiếp thu cũng có thêm phương án mới, trong đó khẳng định: “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc
về nhân dân mà nền tảng là khối đại đoàn kết toàn dân tộc”. Diễn đạt mới
này không còn phần nền tảng là liên minh giai cấp, phản ánh chính xác nhất tư
tưởng chủ quyền nhân dân, không để vấn đề giai cấp ảnh hưởng tiêu cực tới sức mạnh
đại đoàn kết dân tộc.
Cũng trên tinh thần nhận thức mới về
khoa học HP, bên cạnh việc làm rõ hơn trách nhiệm của Đảng, quyền giám sát của
nhân dân với Đảng, khoản 1 Điều 4 dự thảo mới có thêm phương án diễn đạt khái
quát, cô đọng về vai trò lãnh đạo của Đảng: “Đảng CSVN là lực lượng lãnh đạo
Nhà nước và xã hội”. Các nội dung khác thuộc về bản chất, nền tảng tư tưởng của
Đảng đã thể hiện đầy đủ trong Cương lĩnh, Điều lệ Đảng và các văn bản khác,
không cần đưa vào HP như dự thảo hiện tại. Như thế sẽ giúp HP mới ổn định hơn,
bền vững hơn, tránh phải sửa đổi 5-10 năm một lần mỗi khi văn kiện Đảng có điều
chỉnh mới.
Cũng liên quan đến vấn đề Đảng
trong HP, dự thảo tiếp thu ở Điều 70 về nghĩa vụ của các lực lượng vũ trang xuất
hiện hai phương án mới. Một là giữ nguyên như HP hiện hành, khẳng định các lực
lượng vũ trang phải trung thành, bảo vệ Tổ quốc và nhân dân. Phương án khác có
thêm chủ thể Đảng CSVN nhưng đứng sau Tổ quốc và nhân dân.
Quyền cơ bản chỉ có thể bị hạn chế bởi luật
Chương II về quyền con người, quyền
và nghĩa vụ cơ bản của công dân cũng tiếp thu ý kiến đóng góp phong phú của
nhân dân. Theo đó, Điều 15 quy định quyền con người, quyền công dân chỉ có thể
“bị hạn chế ở mức độ cần thiết trong trường hợp khẩn cấp” vì lý do quốc phòng,
an ninh quốc gia, đạo đức, sức khỏe cộng cồng và chỉ “theo quy định của luật”.
Bên cạnh đó, nhiều quyền cụ thể được
thay thế đuôi “theo quy định của pháp luật” thành “theo luật định”. Chẳng hạn,
Điều 22 giữ lại quy định HP hiện hành về nội dung không ai bị bắt nếu không có
quyết định của TAND, quyết định hoặc phê chuẩn của VKSND, đồng thời nâng lên:
“Việc bắt, giam giữ người do luật định”. Tương tự, việc bóc mở, kiểm soát, thu
giữ thư tín (hạn chế quyền bí mật thư tín); việc khám xét chỗ ở (hạn chế quyền
bất khả xâm phạm về chỗ ở) cũng phải theo luật do QH ban hành chứ không phải
văn bản dưới luật.
Dự thảo tiếp thu cũng làm rõ hơn
trách nhiệm của Nhà nước và những bảo đảm của Nhà nước để các quyền cơ bản của
người dân là hiện thực và khả thi. Chẳng hạn, quyền sống (Điều 21) có thêm
phương án bổ sung nội dung: “Hình phạt tử hình cho đến khi chưa được bãi bỏ, chỉ
được áp dụng đối với những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do luật định”. Các
quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu
tình (Điều 26) được bổ sung: “Trình tự, thủ tục thực hiện các quyền này do luật
định”.
Trong các điều khoản hiến định về
quyền con người, nguyên tắc suy đoán vô tội được thể hiện rõ ràng hơn ở Điều 32
dự thảo tiếp thu: “Người bị buộc tội được coi là vô tội cho đến khi được chứng minh theo
trình tự luật định và có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật”.
Đáng chú ý, Điều 39 dự thảo tiếp
thu thể hiện sự bình đẳng của mọi người trong vấn đề hôn nhân, không phân biệt
giới tính khi quy định: “Mọi người đủ tuổi do luật định có quyền kết hôn”. Từ
đây mở ra khả năng xem xét, thừa nhận quyền cơ bản cho cả người đồng giới, lưỡng
tính, chuyển giới.
Liên quan đến vấn đề thu hồi đất,
Điều 58 dự thảo tiếp thu không còn quy định thu hồi đất với cả “dự án phát triển
KT-XH”. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc “thu hồi, bồi thường phải công khai, minh
bạch, công bằng và do luật định”.
13 thg 4, 2013
UBTƯ MTTQ Việt Nam: Kiến nghị bỏ thu hồi đất
(Vietnamnet) - Cưỡng chế, thu hồi đất, sở hữu đất đai là những vấn đề
có nhiều ý kiến tại hội nghị nêu ý kiến và kiến nghị của nhân dân về dự thảo luật
Đất đai sửa đổi sáng 12/4 do UB TƯ MTTQ Việt Nam tổ chức ở Hà Nội.
Cưỡng chế không thể tùy tiện
Đề cập cưỡng chế đất, ông Phạm Ngọc
Thảo, Hội đồng tư vấn pháp luật của MTTQ cho rằng, đây là vấn đề "cực kỳ bức
xúc". Ông chỉ ra thực tiễn 70-80% vụ
việc cưỡng chế đất có vấn đề xảy ra thời gian qua có sai phạm từ phía cơ quan
Nhà nước.
Đất cưỡng chế của người dân nhiều
khi trong tình trạng chưa giải quyết thỏa đáng quyền lợi cho người dân theo
đúng chính sách. Mà nhiều khi áp dụng không đúng luật bị người dân khiếu nại...
Trong câu chuyện này, ông chỉ ra việc
"tùy tiện, lạm dụng quyền lực, áp đặt". "Hầu như trong những vụ
như thế họ chưa tôn trọng dân." - ông phát biểu.
![]() |
| Hội đồng tư vấn kinh tế của MTTQ Nguyễn Quang Thái: Nên bỏ quy định thu hồi đất vì phát triển kinh tế - xã hội vì dễ bị lạm dụng. |
Vị đại biểu kiến nghị việc cưỡng chế
đất thực hiện kế hoạch thu hồi đất dứt khoát chỉ được áp dụng khi người bị thu
hồi đất vi phạm pháp luật và chống đối sau khi đã được giải quyết trong chính
sách pháp luật về thu hồi đất.
"Anh cứ làm đúng đi, thỏa đáng
hết nhẽ... Chỉ khi giải quyết thỏa đáng mà dân vẫn chống đối thì mới thi hành
cưỡng chế. Quy định cứng thế này sẽ ràng buộc các cơ quan có thẩm quyền phải thực
hiện nghiêm chính sách pháp luật về thu hồi đất mà không thể tùy tiện áp đặt.
Điều này cũng tránh được tình trạng lạm dụng quyền lực để cưỡng chế, ép buộc
người dân" - ông Thảo phát biểu.
Bỏ "thu hồi đất"
GS Nguyễn Lân Dũng kể khi còn làm
ĐBQH, một lần ông đến một địa phương theo lời mời của một vị ĐBQH khác. Người
dân ở đó đã "bu" chặt ông để hỏi can cớ của việc không biết vì đâu ruộng
ngô của họ bị thu hồi chỉ để cho một tư nhân khác trồng cam.
Ông kiến nghị thẳng thắn bỏ "thu hồi đất", mà luật định sử dụng
cụm từ "trưng mua, trưng dụng đất" phù hợp trong từng trường hợp Nhà
nước lấy đất của dân phục vụ cho lợi ích quốc gia hay lợi ích công cộng.
Khi đó, cần bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, nhất là
trong khâu định giá đất khi Nhà nước trung mua, trưng dụng đất.
TS Nguyễn Quang Thái, Hội đồng tư vấn
kinh tế của MTTQ cho rằng, quy định thu
hồi đất vì phát triển kinh tế - xã hội nên bỏ vì dễ bị lạm dụng. Rộng hơn,
ông cho rằng cần hạn chế thu hồi đất vì các mục đích vì dễ bị lợi ích nhóm lợi
dụng. Ngay cả việc thu hồi đất vì an
ninh - quốc phòng, phòng chống thiên tai thì cũng phải đền bù xứng đáng dựa
trên tư vấn bồi thường độc lập.
"Phải
quy định để làm sao có sự đồng thuận giữa bên thu hồi và bên bị thu hồi"
- ông nhấn mạnh.
GS Nguyễn Lang - Phó Chủ nhiệm Hội
đồng tư vấn kinh tế cho rằng, cần phải làm rõ hơn việc không giao cho hệ thống
cơ quan hành pháp quyền được thu hồi đất mà chỉ được quyền trưng mua, trưng dụng
trong trường hợp thật cần thiết.
Luật Đất đai sửa đổi cần phải tập
trung vào việc bảo vệ và bảo đảm quyền làm chủ của người được giao quyền sử dụng
đất được giao. Đồng thời cũng làm rõ quyền hạn, nghĩa vụ của người được giao
quyền sử dụng đất trong quá trình quản lý, khai thác đất được giao.
Để có tính ràng buộc chặt chẽ, ý kiến
của ông Phạm Ngọc Thảo cho rằng, cần quy định cứng trong luật : "Việc bồi thường, tái định cư phải được
thực hiện xong trước khi thu hồi đất".
Làm rõ đại diện sở hữu về đất đai
Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn kinh tế
Trương Công Phú cho rằng mọi sửa đổi cụ thể đều phải xác định trên điểm cốt lõi
nhất, quan trọng nhất, đó là chế độ sở hữu đất đai.
![]() |
| Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn kinh tế Trương Công Phú. |
Theo ông, chế độ sở hữu đất đai
toàn dân trong những năm qua áp dụng có những "rối rắm", đến 5-600
văn bản hướng dẫn thực thi, bộ máy quản lý cồng kềnh vẫn không hiệu quả, 80% kiện
cáo liên quan đến đất đai... Đây là những thực tiễn buộc phải xem xét, làm rõ
những ưu, nhược.
Kiến nghị điểm này, ông cũng đề nghị
quy định Quốc hội sẽ là đại diện sở hữu về đất đai. Quốc hội giao cho Chính phủ
quản lý, phân bổ sử dụng đất đai theo định hướng và có sự giám sát của Quốc hội
theo luật định. Chính phủ phân cấp cho UBND các cấp quản lý và phân bổ sử dụng
đất tại địa phương theo quy định của luật.
GS Nguyễn Lang thì cho rằng, phải cụ
thể hóa mối quan hệ phân công giữa hệ thống cơ quan lập pháp (Quốc hội), cơ
quan hành pháp (Chính phủ) trong việc khai thác, sử dụng tiết kiệm và có hiệu
quả đất đai là một tài sản thuộc sở hữu toàn dân.
"Không thể cứ dừng lại ở quy định
nhiệm vụ, quyền hạn của Nhà nước một cách chung chung như lâu nay. Cụ thể là
làm rõ hơn việc Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân qua Quốc
hội, thực hiện nhiệm vụ quản lý và sử dụng tài sản thuộc sở hữu toàn dân qua
Chính phủ như đã xác định tại Hiến pháp 1992 và dự thảo Hiến pháp 2013" -
ông nêu ý kiến.
Thứ Hai, tháng 4 15, 2013
Hoàng Nam Sơn









